nguyentruongsinh

Just another WordPress.com site

Tag Archives: Hòa quang đồng trần

Kết hợp tư tưởng Thiền – Lão Trang trong tư tưởng Tuệ Trung Thượng sĩ

 Đối với các triết gia phương Tây và các triết gia thời kỳ cận hiện đại, người ta không thấy một mối quan hệ rõ ràng giữa học thuyết, tác phẩm với đời sống của họ, bởi đó là sản phẩm của hoạt động của tư duy mang tính tư biện và thuần túy lý tính. Nhưng ở các nhà tư tưởng phương Đông, triết học lại được thể ngộ, đúc rút từ chính cuộc sống nhân sinh. Hơn nữa, chính các nhà tư tưởng đó là người thực hành những quan điểm do mình đề xuất, và biến nó thành một thực tiễn tinh thần. Do đặc điểm như vậy, có thể thấy rằng, các tác phẩm văn học, với tư cách là một bộ phận trong sự nghiệp của các triết gia phương Đông, suy cho cùng là một thứ phương tiện để thể nghiệm nội tâm hay một công cụ ngoại hóa cho việc giải thoát. Việc nghiên cứu bộ phận này của một tác gia- nhà tư tưởng phương Đông vì thế không thể tách rời việc tìm hiểu căn cội triết học, phương pháp tu dưỡng, mẫu hình nhân cách lý tưởng và hành trạng tác giả.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tuệ Trung Thượng sĩ có thể coi là một kiểu triết gia phương Đông khá điển hình. Ông là nhà Thiền học nổi bật nhất của Thiền đời Trần, và góp phần đặt nền tảng tư tưởng cho phái Trúc Lâm Yên Tử – Thiền phái giữ vai trò giáo hội, đồng thời chỉ huy ý thức hệ của quốc gia Đại Việt. Thiền của ông cũng là một thể phức hợp về mặt tư tưởng, trong đó có sự hội nhập và ảnh hưởng của tư tưởng Nho gia và Đạo gia. Những phương diện đó đều được phản ánh vào sự nghiệp tu tập cũng như các sáng tác văn học. Do vậy, nghiên cứu sự ảnh hưởng của đạo Lão Trang trong thơ Tuệ Trung, trước hết cần phải nghiên cứu sự kết hợp Thiền – Lão Trang trong tư tưởng của tác giả này.

2.1. Tư tưởng Lão Trang trong cội nguồn triết học của Thiền Tuệ Trung

2.1.1. Hòa quang đồng trần – tinh thần hòa cùng thế tục

Như đã trình bày, sự dung hợp tam giáo nói chung, sự kết hợp Thiền – Lão Trang nói riêng dưới thời Lý – Trần là một kiểu kết hợp có chính phụ, theo hướng Thiền tông giữ vai trò làm bản vị, giao lưu tiếp hợp với các học phái khác. Theo đó, nhiều tư tưởng của các học phái, trong đó có tư tưởng Lão Trang được sử dụng để bổ sung hoặc như một cách “nói hộ” cho những quan điểm của Thiền.

Trong lịch sử, phương thức vay mượn đó[1], không phải chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam, mà đã có truyền thống Trung Quốc, cùng với quá trình du nhập và bản địa hóa Phật giáo. Cao Tăng truyện chép: “Thích Huệ Viễn, bản tính Giả thị, Nhạn Môn Lâu Phiền nhân dã. […] Bác tổng lục kinh, vưu thiện Lão Trang. […] Niên nhị thập nhất, […] thời sa môn Thích Đạo An lập tự ư Thái Hàng Hằng Sơn, […] Viễn toại vãng quy chi. […] Niên thập nhị tứ tiện tựu giảng thuyết, thường hữu khách thính giảng, giảng thực tướng nghĩa, vãng phục di thời, di tăng nghi muội, Viễn nãi dẫn Trang tử nghĩa vi liên loại, ư thị hoặc giả hiểu nhiên”. (Thích Huệ Viễn (334 – 416), vốn là họ Giả, người ở Lâu Phiền, thuộc Nhạn Môn (gần Nhạn Môn Quan ở phía bắc Sơn Tây). […] Viễn đọc khắp lục kinh, đặc biệt giỏi về Lão Trang. […] Năm Viễn 21 tuổi, […] sa môn Thích Đạo An (312 – 385) lập chùa ở Hằng Sơn trong rặng Thái Hàng, […]Viễn bèn đến quy y. […] Năm 24 tuổi, Viễn giảng thuyết, thường có khách đến nghe. Khi Viễn giảng ý nghĩa của thực tướng, tuy buổi giảng vẫn tiếp tục nhưng thính giả càng thêm nghi hoặc. Viễn bèn viện dẫn ý nghĩa trong Trang Tử có liên hệ cùng loại, do đó những kẻ nghi hoặc liền hiểu rõ”)[2]. Qua đoạn ghi chép, có thể thấy, việc vận dụng tư tưởng Lão Trang để giảng giải những vấn đề thuộc giáo lý nhà Phật diễn ra rất sớm, từ thời Ngụy Tấn[3].  Việc viện dẫn của Tuệ Viễn được giải thích là do sự liên hệ cùng loại giữa tư tưởng Trang Tử và vấn đề thực tướng của Phật giáo. Nghĩa là, tính chất tương đồng giữa hai học phái chính là nguyên nhân của sự vay mượn nêu trên. Hay nói cách khác, chính sự vay mượn giữa hai học phái dựa trên sự tính cùng loại đã tạo nên cơ chế cho sự dung hợp Phật – Đạo, cũng như Thiền – Lão Trang ở giai đoạn sau. Truyền thống thích nghĩa tư tưởng Phật giáo như vậy, đương thời được định danh là phương pháp cách nghĩa (Method of analogy: phương pháp loại tự/ tương tự/ loại suy) [30]. Phương pháp cách nghĩa hay loại suy theo cách gọi của logic học hiện đại là một thao tác tư tưởng vốn đã xuất hiện từ người cổ đại. Nó xuất hiện từ sự mâu thuẫn giữa thế giới khách quan và nhu cầu nhận thức đa dạng của con người về thế giới với vốn tri thức hiện có về đối tượng. Người nguyên thủy, trong thực tế, khi tiếp cận với những đối tượng xung quanh  mà họ không biết được những tính chất cũng như các mối quan hệ của nó đã cố gắng lý giải chúng dựa trên sự tương đồng giữa chúng với những thứ mà họ đã biết, gắn cho chúng những tri thức vốn có của họ. Như vậy, tính cùng loại ở đây cũng cần phải hiểu rằng, đó không hẳn là sự tương đồng về mặt khái niệm, bởi thực chất, nhiều vấn đề tư tưởng của Thiền và Lão Trang chỉ là sự giống nhau về mặt hình thức. Vấn đề là tính tương đồng về mô thức tư duy. Lão Trang là mô thức tư duy gần gũi, quen thuộc với người Trung Quốc. Vì vậy lấy cách thức và khái niệm của Lão Trang để diễn giải các vấn đề của Thiền là một con đường dễ xảy ra và thuận lợi cho việc truyền giảng. Nhưng cũng từ đó dẫn tới tính trạng một số từ ngữ, khái niệm của Lão Trang chỉ là vỏ, còn nội hàm thì của Phật. Đồng thời, khi dùng các khái niệm Lão Trang như vậy, Phật giáo lại cũng bị ảnh hưởng và biến đổi. Khi Thiền học xuất hiện, đã tiếp tục tiếp thu và vận dụng nhiều tư tưởng của các học phái khác, trong đó có Lão Trang nhằm bổ sung cho tư tưởng của mình. Chúng ta có thể thấy những yếu tố của triết lý “vô” trong lời tuyên bố về đặc điểm Thiền đốn ngộ của Huệ Năng: “Chư Thiện trí thức, pháp môn của ta từ trên truyền xuống, trước hết lập Không niệm (Vô niệm) làm tông. Không tướng (Vô tướng) làm thể, Không trụ (Vô trụ) làm gốc” [8,92]. Hay tư tưởng “hòa quang đồng trần” ở Lục Tổ đàn kinh: “Phải học rộng nghe nhiều, phải biết Bản tâm mình, phải rõ thông đạo lý của như Phật, phải xen lộn trong thế gian mà cứu nhân lợi vật (hòa quang tiếp vật) không phải nhân ngã” [8,99]

Sự ảnh hưởng của Lão Trang đối với Thiền Tuệ Trung về cơ bản cũng được thực hiện theo cơ chế dung hợp của Thiền Trung Hoa, tạo thành mối quan hệ “Thiền – Đạo hỗ bổ” khá độc đáo. Trong Thượng sĩ hành trạng, Trần Nhân Tông khi trình bày những sở đắc của bản thân về đạo của thầy đã cho biết: “Hỗn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc ngỗ. Cố năng thiệu long pháp chủng, du lịch sơ cơ. Nhân hoặc tham tầm, lược thị cương yếu, linh kỳ trụ tâm, tính nhậm hành tàng, đô vô danh thực” (Thượng sĩ trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng, chứ không trái hẳn với người đời. Nhờ đó mà nối theo được hạt giống pháp, và dìu dắt được kẻ sa cơ. Người nào tìm đến hỏi han, người cũng chỉ bảo cho biết điều cương yếu, khiến họ trụ được cái tâm, mặc tính hành tàng, không rơi vào danh hay thực). Trong đoạn văn của Trần Nhân Tông cần lưu ý hai điểm: Thứ nhất: Thượng sĩ trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng , chứ không trái hẳn với người đời. Thứ hai: Nhờ đó (nhờ trộn lẫn, không trái với người đời) mà nối theo được hạt giống pháp, và dìu dắt được kẻ sa cơ. Đó là sự đắc pháp của Trần Nhân Tông (điều này khiến ta có cơ sở để tin rằng tư tưởng “hòa quang đồng trần” có ảnh hưởng đến Trúc Lâm đệ nhất Tổ và thiền phái của ông), nhưng cũng đồng thời cho thấy hai đặc điểm cương yếu khi đánh giá về Tuệ Trung cũng như Thiền học của ông.

Tư tưởng “hòa quang đồng trần” là tư tưởng quan trọng của Lão Tử khi bàn về thể và dụng của Đạo. Sách Đạo đức kinh viết: “Tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” (Nó làm nhụt bén nhọn, tháo gỡ rối rắm, điều hòa ánh sáng, đồng cùng bụi bặm” [4,50 – 51]. Vương Bật chú: “Không có chỗ nào đặc biệt vinh hiển, thì vật không có chỗ nào tranh nhau; Không có chỗ nào đặc biệt ty tiện, thì vật không có chỗ nào thẹn”[4]. Đó là một triết lý ứng xử, một thứ minh triết bảo thân của Đạo gia. Đồng thời, “hòa quang đồng trần” cũng giải thích cho lý tưởng “huyền đồng” của Lão tử. Thứ minh triết ấy sau trở thành một quan niệm về cuộc sống hòa đồng, chìm nổi giữa thế tục, không khác biệt. Nó giúp con người tránh rơi vào tình trạng “cực hóa”, phân tranh như trong thời đại của Lão Nhiêm. Chính ở điểm này, tư tưởng của Đạo gia có sự ảnh hưởng rõ nét đến thiền học Tuệ Trung. Ở Thiền Tuệ Trung cũng nổi bật lên một phương cách ứng xử “vô biệt” với ngoại cảnh, được ông trực tiếp thể hiện trong lời ứng đối với đệ tử:

“Tiến vân: “kiến sắc tiện văn tâm”, ý chỉ như hà?

      Sư vân: “Tu tri khỏa quốc giải sa khóa

                  Mạc tác Hàm Đan vong ngọc đào.”

(Lại hỏi: “Thấy sắc liền nghe tâm” ý nghĩa thế nào?

Sư đáp: Vào nước “cởi trần” nên bỏ khố,

Đừng học Hàm Đan quên ngọc đào)

Thậm chí, ông tỏ ra hăm hở “vào vòng cát bụi”, trầm luân trong cõi tục:

Thiều thiều khoát bộ nhập trần lai,

            Hoàng sắc my đầu đỉnh đỉnh khai

            Bắc lý ưu du đầu mã phúc,

            Đông gia tán đản nhập lư thai.”

(Nhập trần)

(Xăm xăm rộng bước đi vào chốn cát bụi,

Long mi sắc vàng mạnh mẽ giương lên.

Xóm Bắc nhởn nhơ rơi vào bụng ngựa

Nhà Đông tản mạn rúc vào thai lừa)

Tất nhiên, cũng cần lưu ý rằng, nhập thế ở Tuệ Trung không nên hiểu là cuộc sống tại thế, mê lầm của người đời thông thường. Mà đó là sự nhập thế sau khi đã chứng ngộ giải thoát. Khi đó, ngay cả thoát thế (thoát đời) hay nhập trần (vào vòng cát bụi) cũng không còn phân biệt. Tất cả chỉ còn là lạc thú của trạng thái giải thoát. Giải thoát mà vẫn nhập thế là vì vậy. Chính ở đây, tư tưởng “hòa quang đồng trần” của Lão Trang để lại dấu ấn rất đậm nét.

Điểm thứ hai trong lời nhận xét của Trần Nhân Tông cho thấy ông nhấn mạnh vào tác dụng của cuộc sống hòa trộn cùng thế tục của Tuệ Trung, coi đó như là căn nguyên chính dẫn tới khả năng hoằng dương Phật pháp ở người thầy của mình. Dường như đối với Trần Nhân Tông, tinh thần “hỗn tục hòa quang” đã trở thành một thực tiễn sinh động trong tư tưởng và hành trạng Tuệ Trung Thượng sĩ. Hơn nữa, sự nhấn mạnh của Trần Nhân Tông, với tư cách là lãnh tụ của một thiền phái, lại không chỉ thuần túy là sự đề cao tư tưởng và công lao của Tuệ Trung, mà có lẽ, trong đó, vị vua Phật cũng nhìn thấy một gợi ý về con đường tu tập. Đó không phải là con đường tu tập siêu thoát ra bên ngoài cõi trần, giữ gìn cho Tâm luôn sáng, không thể che lấp mà lạc đạo, mà là che bớt ánh sáng, hòa vào thế tục, siêu thoát ngay giữa cõi tục. Nói cách khác, ở Tuệ Trung, tư tưởng “hòa quang đồng trần” đã tạo thành một đường hướng tu tập đặc biệt, góp phần tạo nên sự độc đáo trong Thiền học của ông[5]. Và như vậy, trên phương diện hội nhập Tam giáo, tư tưởng của Lão Trang đã được sử dụng để bổ sung cho tư tưởng của Thiền Tuệ Trung. Mối quan hệ giữa Thiền – Lão Trang trong trường hợp này là mối quan hệ “hỗ bổ” trên cơ sở vận dụng, tiếp thu và vay mượn những tư tưởng có tính tương đồng (cùng loại) giữa hai học phái.

2.1.2. Vô sở đãi và tùy duyên tùy tục

Một trong những đặc điểm quan trọng của Thiền học Tuệ Trung là tinh thần phá chấp mạnh mẽ, siêu việt khỏi những phân biệt, giả tạo. Đó cũng chính là quan niệm “bất nhị kiến” rất nổi bật trong tư tưởng của Thượng sĩ. Trong khi hoằng dương Phật pháp, ông thường sử dụng những hình ảnh đối lập, nghịch lý đánh mạnh vào tư duy biện biệt, lệ thuộc vào kinh điển, khiến cho người đối thoại mất phương hướng, do đó thoát khỏi sự ràng buộc của ngục tù khái niệm. Phần Đối cơ[6] trong Thượng sĩ ngữ lục ghi lại đoạn đối giữa ông và học trò:

Tiến vân: Như hà thị thanh tịnh pháp thân?

            Sư vân: Xuất nhập ngưu du nội

                        Toàn nghiên mã phẩn trung.”

(Lại hỏi: Thế nào là thanh tịnh pháp thân?

Sư đáp: Ra vào trong nước đái trâu,

Chui rúc giữa đống phân ngựa.”

Pháp thân là ngôn ngữ Phật giáo đại thừa dùng để chỉ “Thể tính chân thật” của Phật. Đó là cái thể tính chân như tồn tại trong tất thảy chúng sinh. Nó có đặc tính thường hằng, nhất nguyên, vô tướng, do đó không phân biệt trần cấu, thanh tịnh. Người học trong trường hợp này bị kẹt mắc trong thành kiến về khái niệm Pháp thân thanh tịnh (Pháp thân trong sạch), nên Tuệ Trung đã sử dụng hai hình ảnh hoàn toàn đối lập: phân trâu và nước đái ngựa để đưa người học vượt thoát ra khỏi mọi biên kiến, mê chấp. Điều này cho thấy, những hình thức giả tạo, bề ngoài đã không còn quan trọng đối với Tuệ Trung Thượng sĩ. Từ đó, ông có thể nhìn sâu vào thực tướng vô biệt của tồn tại, vượt thoát khỏi sự chấp trước thông thường:

Pháp thân vô khứ diệc vô lai

            Chân tính vô thị diệc vô phi

(Sinh tử nhàn di hĩ)

(Pháp thân không qua cũng không lại

Chân tính không trái cũng không phải.)

Đã không có quá khứ – vị lai, thị – phi, ngay cả mê – ngộ, sắc – không, phàm – thánh cũng không khác:

Mê khứ sinh không sắc,

            Ngộ lai vô sắc không.

            Sắc không mê ngộ giả,

            Nhất lý cổ kim đồng.”

(Mê ngộ bất dị)

(Mê lầm, sinh “không”, “sắc”,

Giác ngộ, hết “sắc”, “không”

“Sắc”, “không”, với “mê”, “ngộ”,

Xưa nay một lẽ đồng.)

Bởi:

Thân tòng vô tướng bản lai không,

            Huyễn hóa phân sai thành nhị kiến.”

(Phàm thánh bất dị)

(Thân từ “vô tướng” vốn là không

Vì huyễn hóa mà chia biệt thành nhị kiến)

Quan điểm “bất nhị kiến” trong Thiền học Tuệ Trung là một quan niệm có tính đa nguyên. Nó chịu sự ảnh hưởng khá rõ nét của Trung Quán phái[7], đồng thời cũng vay mượn nhiều yếu tố từ triết học nhân sinh của Lão Trang.

Trang Tử trong Nam Hoa kinh khi thảo luận về nguồn gốc của tình trạng mất tự do của con người, cho rằng, sở dĩ con người bị trói buộc là bởi tinh thần họ bị rằng buộc bởi sự phân biệt: ta – vật, phàm – thánh, thị – phi, bỉ – thị, tốt – xấu, thiện – ác…tức là Đãi. Thái độ biện biệt đó của trí xảo là hữu đãi. Do đó, để đạt được tự do con người phải buông bỏ mọi sự chấp ngã, phải Vô sở đãi. Mẫu hình nhân cách lý tưởng cao nhất của Đạo gia là “chí nhân vô kỷ” – là loại người chế ngự được lục khí, li hình, lãnh tâm, dời bỏ cả hình tướng của chính bản thân mình. Bậc chí nhân đó so với “thần nhân vô công, thánh nhân vô danh” đã loại bỏ tuyệt đối ràng buộc, an nhiên tự tại, sống thuận theo thể tính, coi mọi vật đều như nhau (tề vật). Ở đây, có thể thấy rằng, tư tưởng “vô sở đãi” của Trang Tử có nhiều điểm gặp gỡ với quan niệm “bất nhị kiến” của Tuệ Trung Thượng sĩ. Nói cách khác, chính tư tưởng “vô sở đãi” là căn nguyên cho tinh thần ứng xử: Phàm thánh bất dị, mê ngộ bất dị, sinh tử nhàn di hĩ ở Tuệ Trung.

Mặt khác, triết lý sống hòa thuận với tự nhiên, hướng tới sự tự do tuyệt đối, thuận theo thể tính, không còn ràng buộc, phân biệt của Lão Trang có lẽ cũng ảnh hưởng tới tư tưởng của vị Thượng sĩ đời Trần. Lời tán của Trần Nhân Tông:

Năng phương năng viên

            Năng hậu năng hạc

Pháp hải độc nhãn

            Thiền lâm tam giác

(Vuông được tròn được

Dày được mỏng được

Biển pháp một mắt

Rừng thiền ba góc)

(Trúc Thiên dịch)

Cho thấy triết lý sống tùy theo cơ duyên mà ứng xử của Tuệ Trung Thượng sĩ. Ông khuyên mọi người:

Khỏa quốc hân nhiên tiện thoát y

            Lễ phi vô dã, tục tùy nghi

(Vật bất năng dung)

(Đến xứ cởi trần, cứ vui vẻ mà bỏ áo

Không phải là quên lễ, chỉ tùy theo thói tục mà thôi)

Đó chính là triết lý ứng xử tùy theo cơ duyên của nhà Phật, nhưng cũng đồng thời là tinh thần tùy thời tùy tục, an thời xử thuận của Lão Trang.[8] Hay nói cách khác, chính triết lý tùy tục, thuận theo tự nhiên của Lão Trang được sử dụng để diễn đạt cho tùy duyên trong tư tưởng Tuệ Trung Thượng sĩ. Từ đó mà tiêu dao cuồng phóng, vượt bỏ mọi giới hạn, chiều kích của cuộc sống nhân sinh.

2.2. Sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang đến việc lựa chọn con đường tu tập của Tuệ Trung Thượng sĩ

            Với tư cách là một thứ triết học giải thoát, Phật giáo tỏ ra rất chú ý tới việc xây dựng một hệ thống quan niệm về tu dưỡng luận, và các phương pháp tu tập nhằm giúp người cầu học có thể chứng nhập Niết Bàn, bước ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Sự hình dung về quá trình chứng nhập đó là sự chuyển từ trạng thái mê sang ngộ, từ phàm sang thánh, từ phiền não sang bồ đề, là “đáo bị ngạn” (sang bờ bên kia) hay “độ”. Phép tu giữ vai trò nền tảng căn bản cho việc tu hành cầu giải thoát của nhà Phật được gọi là tu lục độ, gồm sáu loại: Bố thí, trì giới, tinh tiến, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Mặc dù cách hình dung này sau này đã có nhiều điểm thay đổi; thậm chí khi Thiền học ra đời đã phủ định sự tồn tại của một trang thái giải thoát bên ngoài (Tâm), mà đem Niết bàn nội hóa, Tâm ngộ tức Niết bàn. Tuy nhiên, phương thức tu tập lục độ nêu trên vẫn có ảnh hưởng quan trọng đến các Thiền sư.

Như đã nói, Tuệ Trung Thượng sĩ là nhà Thiền học nổi bật nhất của Thiền đời Trần. Vì vậy, nghiên cứu sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang đến việc lựa chọn con đường tu tập ở Thượng sĩ vẫn cần phải xem xét từ cách thức tu tập của Phật học truyền thống.

Trong quá trình hoằng pháp và trong các tác phẩm của mình, Tuệ Trung đều bàn tới các yếu tố của phương pháp tu lục độ. Điều đáng chú ý là, thay vì thực hiện theo các phương pháp đó, Tuệ Trung lại phủ định hoàn toàn:

Lục độ vạn hạnh hải thượng ba,

            Tam độc cửu tình không lý nhật

(Phật Tâm ca)

(Lục độ vạn hạnh là song trên mặt bể

Tam độc cửu tình là mặt trời trên không

Khi được Trần Nhân Tông hỏi về việc trì giới, nhẫn nhục, ông cho rằng:

Trì giới kiêm nhẫn nhục

            “Chiêu tội bất chiêu phúc.

            Dục tri vô tội phúc

            Phi trì giới nhân nhục.”

(Trì giới và nhẫn nhục

Chuốc tội chẳng chuốc phúc

Muốn biết không tội phúc,

Đừng trì giới nhẫn nhục)

Đối với việc Thiền định, mặc dù từ Huệ Năng đã không còn có ý nghĩa quan trọng như trước[9], nhưng các Thiền sư không phải đã hoàn toàn từ bỏ. Sách Thiền Uyển Tập Anh [7] cho biết Thiền sư Vô Ngôn Thông (759? – 826), từng đắc pháp với Bách Trượng Hoài Hải (749 – 814, học trò của Mã Tổ Đạo Nhất) khi sang Việt Nam, tu tại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Tiên Du (năm 820) “ngoài việc cơm cháo, vui cái vui Thiền, thường ngồi quay mặt vào vách, không bao giờ nói năng, suốt mấy năm mà không ai biết”. Tuệ Trung mặc dù đắc pháp với Thiền sư Tiêu Dao, thế hệ cuối của thiền phái Vô Ngôn Thông, nhưng khác với vị Thiền sư lập phái và các vị cổ đức:

Thanh văn tọa thiền ngã vô tọa

            Bồ tát thuyết pháp ngã thực thuyết”

(Sinh tử nhàn di hĩ)

(Thanh văn ngồi thiền ta không ngồi

Bồ tát nói pháp ta nói thực.)

Cách tu hành đặc biệt ông có thể giải thích từ Phật tính luận (tức Tâm tức Phật)của Huệ Năng, chủ trương quay trở về tìm sự giải thoát ngay tại “Tâm mình” mà không phải là sự kiếm tìm bên ngoài. Hơn nữa việc thực hành lục độ chỉ cần thiết khi người tu hành còn tạo nghiệp. Nếu Tâm bản thể không còn vọng động, chấp ngã thì việc tu chỉ gây tội mà không thêm phúc. Tuy nhiên, các thức đó của Tuệ Trung cũng có thể giải thích từ tư tưởng vô vi, thuận theo bản tính tự nhiên, không cố làm trái với tự nhiên của tư tưởng Lão Trang. Chính ông đã trực tiếp thể hiện tư tưởng đó:

Nghiết thảo dữ nghiết nhục

            Chúng sinh các sở thục

            Xuân lai bách thảo sinh

            Xứ xứ ba la mật”

                        (Thượng sĩ hành trạng)

(Ăn thịt và ăn cỏ

Chúng sinh từng loài đó.

Xuân về cây cỏ sinh,

Họa phúc nào đâu có?”

Đó chính là nhắc tới tư tưởng thuận theo tự nhiên, tư tưởng quan trọng nhất trong triết học nhân sinh của Đạo gia. Lão Tử khi bàn về mối quan hệ giữa Đạo, trời, đất và người cho rằng: “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên” (Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên) nhưng suy cho cùng chính là “nhân pháp Tự nhiên”. Việc Tuệ Trung khuyên Trần Nhân Tông không nên trì giới, nhẫn nhục, bởi vì ông coi việc ăn thịt và ăn cỏ là thuận theo bản tính tự nhiên của mỗi loài. Chỉ có sự vướng mắc vào ý niệm tội phúc mới gây ra tội. Vì thế, việc trì giới và nhẫn nhục theo Tuệ Trung cũng giống như:

Như nhân thượng thụ thì

            An trung tự cầu nguy.

            Như nhân bất thượng thụ

            Phong nguyệt hà sở vi

(Thượng sĩ hành trạng)

(Như khi người trèo lên cây

Là đang trong bình an lại tự tìm lấy nguy hiểm

Nếu người ta không trèo cây nữa.

Thì gió lay, trăng dọi có làm được gì)

Đó là sự chấp vào hữu vi, trái với quy luật của tự nhiên. Chỉ có vô vi, tề vật, an thời xử thuận theo tự nhiên mới giúp con người được giải thoát. Khi đó “bổ củi, gánh nước đều là diệu đạo”, mọi hành động đều là thiền định:

“Hành diệc thiền!

            Tọa diệc thiền!

            Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên”

                        (Phật Tâm ca)

(Đi cũng thiền!

Ngồi cũng thiền!

Trong lò lửa đỏ một bông sen.)

Như vậy, việc lựa chọn con đường tu tập ở Tuệ Trung có sự kết hợp của quan điểm Phật tính luận, Vô niệm (ở trong niệm mà không niệm), Vô tướng (ở với tướng mà lìa tướng), Vô trụ (không vướng mắc, ràng buộc, xem tất thảy như không không)  của Thiền Huệ Năng và tư tưởng vô vi, tề vật, thuận theo tự nhiên của Lão Trang. Trong đó, khi bàn về phương phức tu tập truyền thống thì là Thiền, còn khi phủ nhận hữu vi, ứng xử phù hợp với quy luật Tự nhiên lại là Lão Trang. Chính những yếu tố này của Đạo gia đã góp phần quan trọng vào sự lựa chọn con đường tu tập hết sức độc đáo ở Tuệ Trung Thượng sĩ. Phương pháp tu tập này khi kết hợp với tư tưởng “hòa quang đồng trần”, “tùy duyên tùy tục” sẽ tạo thành khuynh hướng nhập thế rất nổi bật trong Thiền học của ông cũng như Thiền đời Trần. (Những yếu tố này khi kết hợp với tư tưởng “hòa quang đồng trần”, “tùy duyên tùy tục” tạo thành con đường tu tập tại thế hết sức độc đáo của Tuệ Trung Thượng sĩ )

2.3. Sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang và việc lựa chọn mẫu hình nhân cách ở Tuệ Trung Thượng sĩ.

            Việc xây dựng một mẫu hình nhân cách lý tưởng là hiện tượng phổ biến ở các triết gia phương Đông. Nó tồn tại như một cái đích đến cho việc rèn luyện, tu dưỡng thân tâm ở các triết gia đó. Đồng thời, nó cũng vạch ra những giới hạn của học thuyết, xét trên phương diện tư tưởng. Mặt khác, chính những hình mẫu này lại là đề tài cho việc thảo luận và thể hiện trong các sáng tác văn học.

Cũng như hầu hết các triết gia phương Đông, Tuệ Trung Thượng sĩ trong sự nghiệp tu tập của mình, cũng hướng tới xây dựng một kiểu mẫu hình nhân cách lý tưởng , và thể hiện nó một cách sinh động trong các sáng tác. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý, bản thân Tuệ Trung thượng sĩ cũng là một hình mẫu đặc biệt, tiêu biểu cho sự dung hợp Thiền – Lão Trang dưới thời Lý – Trần. Đó là một kiểu nhân cách không hoàn toàn là Thiền, nhưng cũng không toàn là Lão Trang, có tính chất phức hợp, đôi khi rất khó phân tách một cách rõ ràng. Nghĩa là, việc lựa chọn ở Tuệ Trung không phải là sự lựa chọn có tính thuần nhất (trong phạm vi một hệ thống tư tưởng), mà có sự tham gia của Tam giáo: Nho – Phật – Đạo. Do đó, việc xác định mẫu hình lý tưởng ở ông,  (cũng như các thiền sư thuộc thiền phái Trúc Lâm) thực chất là việc lựa chọn giữa những giới hạn của Tam giáo. Mẫu hình lý tưởng đó như thế nào phụ thuộc vào việc chủ thể lựa chọn giới hạn nào.

Nho giáo đặt ra các quy tắc ứng xử, các chuẩn mực (giới hạn), các phương pháp rèn luyện tâm tính, nhằm làm cho tâm tính của mình thích nghi, phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc do các nhà tư tưởng của họ đặt ra. Nhà Nho trong phép tu dưỡng, khi đã đặt tới độ thành thục sẽ thấy không còn giới hạn. Khi đó người tu dưỡng đã siêu việt khỏi sự ràng qua các giới hạn, không còn cảm thấy bị ràng buộc, mà tìm thấy lạc thú ngay trong các giới hạn đó. Cái lạc thú, cái trạng thái tự do của nhà Nho là kết quả của  quá trình rèn luyện lâu dài, tồn tâm dưỡng tính, để đi tới đồng nhất nhân dục với những chuẩn mực, và xóa nhòa tất cả các ranh giới. Lời tổng kết cuộc đời của Khổng Tử trong Luận ngữ: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận,  thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ” (Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học, ba mươi tuổi thì lập, bốn mươi tuổi không còn thấy nghi hoặc, năm mươi tuổi biết tuân theo mệnh trời, sáu mươi tuổi biết nghe theo điều phải, bảy mươi tuổi theo cái lòng mình thích mà không ra ngoài khuôn khổ) là một ví dụ điển hình cho việc tu dưỡng của Nho gia, đồng thời cũng chính là mẫu hình lý tưởng mà các nhà Nho vươn tới. Sự siêu việt đó của Nho gia là sự siêu việt trong nội tại.

Đạo gia trên phương diện triết học nhân sinh tỏ ra rất chú ý tới vấn đề tự do của con người. Các nhà tư tưởng của Đạo gia mở rộng mọi giới hạn để đạt tới sự tự do về mặt tinh thần. Việc chú tới tính chất tương đối của thế giới xét trên phương diện nhận thức luận cũng như việc chủ trương tư tưởng vô vi, vô sở đãi, tề vật thực chất là tạo ra không gian cho sự hoạt động của tư duy và trí tưởng tượng của con người. Do đó, với Đạo gia, tinh thần con người được giải phóng, mở rộng ở nhiều chiều kích, giúp con người trở nên tự do hơn, phóng khoáng hơn. Những hình mẫu của họ là những bậc chân nhân “hít sương uống gió…cưỡi mây và rồng bay mà đi chơi khắp ngoài cõi bốn bể” [6,153]. Tuy vây, sự vượt bỏ những giới hạn ở tư tưởng Đạo gia vẫn là sự mở rộng những giới hạn có thực, gắn liền với cuộc sống nhân sinh, mà chưa phải là sự siêu việt tuyệt đối.

Trong khi đó, Phật giáo nói chung, Thiền tông nói riêng chủ chương đập nát mọi ranh giới, giới hạn thông qua việc phá vỡ ngay cả các khái niệm, quy ước. Nhà Phật đưa ra thuyết vô ngã, cho rằng mọi sự tồn tại trong cuộc đời đều không phải là tồn tại thực tướng, vô biệt do đó chủ trương trở về với bản tâm hằng thường, vô sinh diệt. Đồng thời không chấp nhận bất kỳ một giới hạn nào, giúp con người đạt đến sự tự do thực sự. Vì vậy, Phật giáo cũng mở ra khoảng rộng lớn nhất, tuyệt đối nhất cho con người.

Ở đây, có sự kết hợp và giao lưu của tam giáo, mà đậm nét hơn là Thiền – Lão Trang trong việc hình thành mẫu hình lý tưởng ở Tuệ Trung Thượng sĩ. Trong các sáng tác của mình, ông vừa thể hiện là hình ảnh một Thiền sư đắc pháp, siêu thoát, dứt bỏ mọi chấp ngã ràng buộc, nhưng đồng thời lại cũng thể hiện là một người dật sĩ tiêu dao, tùy duyên tùy tục, đói ăn mệt nghỉ, an thời xử thuận, tìm lạc thú ngay giữa cõi trần:

Thiên địa diếu vong hề hà mang mang

            Trượng sách ưu du hề phương ngoại phương

            Hoặc cao cao hề vân chi sơn,

            Hoặc thâm thâm hề thủy chi dương

            Cơ tắc xan hề hòa là phạn

            Khốn tắc miên hề hà hữu hương

            Hứng thời xuy hề vô khổng địch

Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương

            Quyện tiểu phại hề hoan hỉ địa

            Khát bão xuyết hề tiêu dao thang.”

(Phóng cuồng ngâm)

(Ngắm trông trời đất sao mà mênh mông

Chống gậy nhở nhơ ngoài thế gian

Hoặc đến chỗ núi mây cao cao

Hoặc đến chỗ nước biển sâu sâu

Đói thì ăn cơm hòa la

Mệt thì ngủ làng “không có làng”

Khi hứng thì thổi sáo không lỗ

Nơi yên tĩnh thì thắp hương giải thoát

Mệt thì nghỉ tạm ở đất hoan hỉ

Khát thì uống no thang tiêu dao.)

Sự kết hợp thiền – Lão Trang ở đây tạo ra một mẫu hình nhân cách đặc biệt: không hoàn toàn là Thiền, cũng không hoàn toàn là Lão Trang; không còn mọi phân biệt thiền sư hay dật sĩ, núi cao hay biển sâu, chỉ tùy duyên tùy tục mà tiêu dao, chìm nổi giữa thế tục. Mẫu hình này khi đi vào văn học sẽ trở thành hình tượng trung tâm trong các sáng tác của Tuệ Trung Thượng sĩ.

2.4. Sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang đến việc hình thành một loại hình tác giả văn học

            Đạo gia trong khi thảo luận về các vấn đề triết học nhân sinh, cũng đồng thời coi văn nghệ là một thứ phương tiện – công cụ ngoại hóa cho việc tìm kiếm tự do cho con người (thực chất là một sự giải thoát). Do đó, các nhà tư tưởng của Đạo gia rất chú ý tới việc thể hiện quan điểm về cá vấn đề thuộc về đời sống sáng tạo nghệ thuật: lý tưởng thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và các phương thức thể hiện.

Về phương diện  thẩm mỹ, do Đạo gia coi trí tuệ, luân lý, đạo đức – những yếu tố thuộc về nhân vi là nguyên nhân tạo ra tình trạng mất tự do về tinh thần của con người. Vì vậy, khi xét tới cái đẹp lý tưởng (lý tưởng thẩm mỹ), họ thường đề cao cái đẹp Tự nhiên, vô vi, thuận theo quy luật của Đạo, không chịu sự ràng buộc với hành động tạo tác của con người. Đó là cái đẹp của sự tự do, siêu việt khỏi những định chế đạo đức và thiết chế xã hội, khác xa với cái đẹp trong sự hài hòa giữa con người với cộng đồng, với trời đất, vạn vật của Nho gia. Nó chính là cái đẹp mà Trang Tử gọi là “chí mỹ”, “đại mỹ”. Cái “đại mỹ” đó chỉ có thể tồn tại trong đại tự nhiên, trong những “thiên lại” (sáo trời), “địa lại” (sáo đất) được Trang Tử miêu tả qua lời của Nam Quách Tử Kì: “Đất thở thì thành gió. Gió không thổi thì thôi, đã thổi thì cả vạn hang lỗ đều gào thét lên. Anh có nghe gió hú bao giờ chưa? Trên rừng núi cao ghê gớm có những cây lớn chu vi được cả trăm gang tay, thân cây có hang có lỗ, như lỗ mũi, lỗ tai hoặc miệng người; lại có những lỗ  (vuông) như lỗ đục trong các đà ngang, hoặc lỗ mắt cáo; có lỗ như miệng cối, như ao sâu, như vũng cạn. Gió thổi thì những lỗ ấy phát  ra những tiếng khác nhau, có khi như tiếng nước chảy ào ào, như tiếng tên bay vun vút; có khi như tiếng thú gầm, như tiếng thở nhẹ; có khi như tiếng người mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi như tiếng chim ríu rít, như tiếng người đi trước hô, người đi sau đáp. Gió hiu hiu thổi thì nghe du dương; gió lớn nổi lên thì nghe ào ào. Gió lớn ngừng rồi, các hang lỗ lại im lặng, mà anh có thấy cành lá lúc ấy chỉ hơi lay động không?” [6,160]. Cái đẹp trong tư tưởng của Đạo gia, như vậy đối lập hoàn toàn với cái đẹp giới hạn của nhân vi tạo tác.

Về chủ thể thẩm mỹ, Đạo gia hướng vào thể hiện con người tự do, tiêu dao, siêu thoát mọi giới hạn. Do vậy, Đạo gia cũng thường sử dụng những hình ảnh hết sức rộng lớn trong đại tự nhiên để khắc họa hình tượng chủ thể đó. Nghĩa là, cùng với việc nhấn mạnh sự tự do tuyệt đối của con người, Đạo gia mở ra khả năng mở rộng vô hạn các chiều kích của khách thể thẩm mỹ, cũng có nghĩa là nới rộng mọi chiều kích, mọi giới hạn của chủ thể.

Hơn nữa, trong các tác phẩm của Đạo gia, đặc biệt là Nam Hoa Kinh của Trang Tử, các hình ảnh, các chuyện ngụ ngôn đều là sản phẩm của trí tưởng tượng. Cách làm đó nhằm mục đích phá vỡ tư duy lý tính thông thường, nô lệ vào trí xảo, tạo dựng một trạng thái mới vượt lên giới hạn của đời sống; đồng thời lại tạo nên những hình ảnh hết sức phóng khoáng, giàu tính văn học. Những phương diện kể trên trong tư tưởng về văn nghệ của Đạo gia, đối với sự phát triển của văn nghệ có ý nghĩa rất quan trọng. Nó không chỉ đề cao việc thể hiện một cái đẹp tận thiện tận mỹ, chủ trương miêu tả trạng thái tự do tuyệt đối của con người mà còn khai phóng cho trí tưởng tượng của con người – những điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của văn học. Đồng thời, trên phương diện phương thức thể hiện, các tác phẩm của Đạo gia cũng cung cấp nhiều hình ảnh giàu tính văn chương.

Tư tưởng văn nghệ Lão Trang chắc chắn đã có ảnh hưởng tới sự nghiệp sáng tác của Tuệ Trung Thượng sĩ. Trong các tác phẩm của ông, ta có thể bắt gặp khá nhiều thuật ngữ, hình ảnh của Đạo gia được sử dụng, đặc biệt trong thơ tự do. Những hình ảnh đó không chỉ diễn đạt Thiền ý, mà đã góp phần tạo thành những tác phẩm văn chương thực sự. Đối với nhiều tác phẩm được chép trong phần Thơ Tụng của Thượng sĩ ngữ lục: Phóng cuồng ngâm, Thế thái hư huyễn…bên cạnh phương diện thể hiện triết lý nhân sinh của Phật giáo, người ta khó có thể phủ nhận tính văn học của nó. Hơn nữa, tinh thần phóng khoáng của Đạo gia cũng để lại dấu ấn đậm nét trong các sáng tác đó, tạo nên những khúc ca cuồng phóng hiếm thấy trong lịch sử văn học dân tộc.

Nhìn rộng ra các tác phẩm của các thiền sư thời kỳ Lý – Trần, sự ảnh hưởng của Đạo gia không giới hạn ở sự vay mượn về mặt ngôn ngữ, hình ảnh mà có cả sự vận dụng về phương diện tư tưởng. Thiền thời Lý – Trần, dưới ảnh hưởng của Lão Trang, có khuynh hướng nhập thế rõ rệt. Thiền nhập thế hơn, giúp các thiền sư thoải mái hơn trong việc thể hiện cảm xúc của mình trước những điều “mắt thấy tai nghe” giữa cõi tục vào các tác phẩm của mình. Các bài thi kệ khi đó trở nên thơ hơn. Nhiều bài kệ thời kỳ này là những tác phẩm thơ ca có giá trị: Cáo tật thị chúng (Mãn Giác), Ngôn hoài (Không Lộ), Xuân vãn (Trần Nhân Tông), các bài vịnh cúc hoa của Huyền Quang… Giữa Thiền sư và thi sĩ do đó cũng xuất hiện nhiều điểm tương đồng. Đó là kiểu kết hợp Thiền sư – thi sĩ ở thời kỳ này. Cũng có nghĩa là, tư tưởng Đạo gia đã góp phần hình thành nên một loại hình tác giả văn học, Thiền sư – thi sĩ, mà Tuệ trung là một hiện tượng tiêu biểu. Đây chính là cơ sở để chúng tôi đi vào nghiên cứu sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang trong thơ tự do của Tuệ Trung Thượng sĩ.

 

 

 

 

 

 


[1] Cũng cần lưu ý, sự dung hợp giữa Phật giáo và Lão Trang không phải chỉ diễn ra một chiều: Phật giáo vay mượn các tư tưởng của Đạo gia mà có cả chiều ngược lại. Truyền thuyết Lão Tử hóa Phật ở đất Hồ là một ví dụ

[2] Dẫn theo: Phùng Hữu Lan (2007), Lịch sử triết học Trung Quốc, tập 2, Lê Anh Minh dịch, Nxb KHXH, tr. 288

[3] Theo năm sinh và năm mất của Tuệ Viễn thì ông sống vào thời Ngụy Tấn

[4] Dẫn theo, Nguyễn Kim Sơn, Cội nguyền triết học tinh thần Thiền nhập thế Trần Nhân Tông, TM 48

[5] Cần phải lưu ý rằng, tư tưởng “hòa quang đồng trần” ở Tuệ Trung là sự vay mượn một cách thức tư duy mà không phải là sự sao chép về mặt khái niệm. Bởi, về bản chất, Lão Trang nhập thế là nhằm thực hiện tới sự nhất thể, vô biệt, vô đãi. Nhất thể giữa ngã và tha, nhất thể giữa nhân và vũ trụ, để đạt tới đồng nhất tới tự nhiên, đồng nhất trong Đạo. “Hòa quang đồng trần” của Đạo là một triết lý nhân sinh. “Hòa quang đồng trần” của Thiền là phương pháp tu tập và con đường nhân thức. Thiền hòa quang đồng trần là lấy cái ánh sáng từ tâm giác ngộ của mình trong nội tại để soi rọi, nhằm tới phá bổ cả mọi chấp trứ.

[6] Đối là đối đáp. Cơ là căn cơ. Đối cơ chỉ việc thầy tùy theo căn cơ của học trò mà trả lời

[7] Long Thọ(Nagarjuna, khoảng năm 150 – 250), người sáng lập ra Trung Quán phái cho rằng, mọi quan niệm về thường – đoạn, nhất nguyên – đa nguyên, sinh – diệt đều là tạo tác của nhận thức khái niệm. Thế giới được nhìn nhận qua những quan niệm như  một thế giới phân biệt “nhị kiến” mà không phải là một thế giới thực tướng, thường hằng, chân như.

[8] Thực chất, tùy duyên của Phật giáo và tùy tục của Lão Trang có sự giống nhau về mặt hình thức, nhưng lại có sự khác nhau căn bản về mặt nguồn gốc. Vấn đề này chúng tôi sẽ trở lại ở chương sau.

[9] Bồ đề đạt ma theo truyền thuyết là vị tổ thứ 28 của Thiền Ấn Độ,khi sang Trung Quốc, tu tại chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn, tĩnh tọa quay mặt vào vách suốt 9 năm. Phương pháp thiền định trước Huệ Năng được các Thiền sư  rất coi trọng.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.